Heaven of manga-anime cùng hoà nhịp đam mê

Show you what You wanna see
 
Trang ChínhTrang Chính  H-mangaH-manga  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  

Share | 
 

 ~♥~ Lịch sử Nhật Bản ~♥~

Go down 
Tác giảThông điệp
ღ Crystal ღ
Pawn
avatar

Tổng số bài gửi : 80
Join date : 18/04/2009
Age : 26
Đến từ : ♥ Trong tim những ai cần tớ ♥

Bài gửiTiêu đề: ~♥~ Lịch sử Nhật Bản ~♥~   Wed Apr 22, 2009 7:32 pm

Lịch sử Nhật Bản

Lịch sử thành văn về Nhật Bản đã có từ thế kỷ 1 công nguyên qua
các đoạn ghi chép ngắn trong sử liệu Trung Quốc. Tuy nhiên, các nghiên
cứu khảo cổ học cho thấy trên các hòn đảo mà nay là Nhật Bản đã có
người sinh sống ngay từ cuối thời kỳ đồ đá cũ . Ngay sau thời kỳ
băng hà cuối cùng, khoảng 12.000 TCN, hệ sinh thái phong phú trên quần
đảo Nhật Bản đã giúp đẩy nhanh sự phát triển loài người, sản sinh ra
nền văn hóa đất nung nổi tiếng của thời kỳ Jomon. Lịch sử Nhật Bản với
nhiều thời kỳ cô lập thay thế nhau bị gián đoạn bởi các ảnh hưởng cấp
tiến, thường là cách mạng từ thế giới bên ngoài.



[Sơ sử]

Thời kì đồ đá

Thời kỳ đồ đá cũ Nhật Bản
(旧石器時代, kyū-sekki-jidai?, “Cựu thạch khí thời đại”) bao trùm thời kỳ
khoảng 100.000 [1] đến 30.000 năm trước công nguyên, khi những công cụ
bằng đá sớm nhất được tìm thấy, khoảng 14.000 năm TCN,[2] vào cuối kỷ
Băng hà, tương ứng với sự mỏ đầu của thời kỳ đồ đá giữa Jōmon. Thời
gian 35.000 năm TCN được phần lớn mọi người chấp nhân: mọi niên đại của
sự hiện diện con người trên đảo quốc này trước 30.000-35.000 năm TCN
đều vẫn còn bàn cãi, với các đồ tạo tác ủng hộ cho sự hiện diện con
người trước năm 35.000 TCN về mặt khảo cổ học vẫn còn bị nghi ngờ về
tính xác thực.

Những công cụ đá sớm nhất

Công cụ đá sớm nhất của người
Nhật, rìu và dao đá mài, được tìm thấy tại di chỉ Kamitakamori ở tỉnh
Miyagi, có niên đại 500.000 năm TCN, nhưng sau đó phát hiện ra rằng đây
là sự giả mạo của Fujimura Shinichi.[4] Tuy vậy, phần lớn phát hiện về
sơ kỳ đồ đá Nhật Bản bắt đầu sau năm 35.000 TCN, khiến cho niên đại này
được phần lớn chấp nhận như là thời gian con người đã tiến ra Nhật
Bản.

Xương người sớm nhất được phát
hiện ở Hamamatsu, Shizuoka. Phương pháp phóng xạ carbon đã cho thấy hóa
thạch này có niên đại 14.000-18.000 năm tuổi

Đá móng và công cụ được mài nhẵn


Công
cụ đá được mài nhẵn hay rìu. di chỉ Hinatabayashi B, Shinanomachi,
Nagano. Thời kì tiền Jōmon (thời kỳ đồ đá), 30.000 năm TCN. Bảo tàng
Quốc gia Tokyo.Thời kỳ đò đá Nhật Bạn cũng có sự độc đáo là sự xuất
hiện của các đá móng và công cụ được mài nhẵn sớm nhất trên thế
giới,[5] niên đại khoảng 30.000 năm TCN, một công nghệ đặc trưng gắn
với sự mở đầu của thời kỳ đồ đá mới, khoảng 10.000 năm TCN, trên phần
còn lại của thế giới. Không rõ tại sao những công cụ như thế này lại
được làm ra sớm đến thế ở Nhật Bản, mặc dù thời kỳ này gắn với sự ấm
lên toàn cầu (cách nay 30.000-20.000 năm), và các hòn đảo có lẽ đã
hưởng lợi từ nó.

Vì sự độc đáo này, thời kỳ đồ
đá cũ Nhật Bản không hoàn toàn phù hợp với định nghĩa theo truyền thống
về thời kỳ đồ đá cũ dựa trên công nghệ chế tác đá (công cụ đá mài). Các
công cụ thời kỳ đồ đá cũ Nhật Bản do đó thể hiện những đặc điểm tiêu
biểu của thời kỳ đồ đá giữa và thời kỳ đồ đá mới từ những năm 30.000
TCN.

Cổ nhân chủng học

Dân cư thời kỳ đồ đá cũ ở Nhật
Bản, cũng như dân cư thời Jōmon sau này, có liên quan đến các nhóm
người Châu Á cổ sinh sống trên những phần rộng lớn của châu Á sau sự
gia tăng dân số cấu thành bộ phần người ngày nay là người Trung Quốc,
Triều Tiên, và Nhật Bản [cần dẫn nguồn]

Các đặc điểm tiêu biểu của
xương có rất nhiều điểm tương đồng giữa những nhóm người bản địa trên
lục địa Châu Á. Cấu trúc răng thuộc về nhóm Sundadont, chủ yếu phân bố
trong dân cư cổ ở Đông Nam Á (noiw dân cư hiện nay thuộc về nhóm
Sinodont). Đặc điểm hộp sọ có xu hướng khỏe hơn, với đôi mắt sâu.

Dân cư bản địa người Ainu, ngày
nay phần lớn bị giam hãm trên hòn đảo phía Bắc Hokkaidō, có lẽ là hậu
duệ của dân cư thời đồ đá cũ, và thể hiện các đặc điểm trong quá khứ
được chỉ rõ bởi chủng Caucasoid, nhưng ngày nay có khuynh hướng nói
chung coi họ là một phần của nhóm người sơ kỳ đồ đá cũ.

Phân tích gen dân cư ngày nay
không hoàn toàn rõ ràng và có xu hướng thể hiện sự pha trộn gene giữa
dân cư tối cổ Nhật Bản với những người mới đến (Cavalli-Sforza). Ước
tính rằng 10 đến 20% gene chủ yếu của người Nhật hiện nay nhận được từ
người bản địa cổ đại thời kỳ đồ đá cũ-Jōmon, với phần còn lại đến từ
những người nhập cư từ lục địa, đặc biệt là trong thời kỳ Yayoi.


Khảo cổ học về thời kỳ đồ đá cũ
Nghiên cứu về thời kỳ đồ đá cũ
ở Nhật Bản không bắt đầu cho đến khá gần đây: di chỉ đồ đá cũ đầu tiên
được phát hiện ngay sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ II. Do
những giả định trước đó rằng con người không sống ở Nhật Bản trước thời
Jōmon period, các hố khai quật thường chỉ dừng lại ở các vỉa đất thời
Jōmon (14.000 năm TCN), và không được tiến hành xa hơn. Tuy vậy, từ khi
phát hiện đầu tiên về thời kỳ đồ đá cũ, khoảng 5.000 di chỉ đồ đá cũ đã
được phát hiện, một số trong số đó tại những di chỉ khảo cổ thời Jōmon.

Nghiên cứu về thời kỳ đồ đá cũ
Nhật Bản được mô tả từ số lượng thông tin lớn của địa tầng học vì hoạt
động tự nhiên của núi lửa ở hòn đảo này: các vụ phun trào lớn có xu
hướng bao phủ các hòn đảo với các lớp bụi núi lửa, có thể dễ dàng xác
định ngày tháng và có thể được tìm thấy trên khắp đất nước làm dữ liệu
tham khảo. Một tầng đất quan trọng như thế là đá bọt AT (Aira-Tanzawa),
bao phủ toàn bộ Nhật Bản khoảng 21.000-22.000 năm.

Năm 2000, danh tiếng của ngành
khảo cổ học Nhật Bản về thời kỳ đồ đá cũ bị tổn hại nặng nề vì một vụ
scandal. Tờ Mainichi Shimbun phanh phui chuyện các bức ảnh theo đó
Shinichi Fujimura, một nhà khảo cổ học nghiệp dư tại tỉnh Miyagi, là
những đồ tạo tác sắp đặt trước tại di chỉ Kamitakamori, nơi hắn "tìm
thấy" các đồ tạo tác ngày hôm sau. Hắn thừa nhân sự bịa đặt trong một
cuộc phỏng vấn trên một tờ báo. Viện Khảo cổ học Nhật Bản hủy bỏ tư
cách thành viên của Fujimura. Một đội điều tra đặc biệt của Hội khám
phá ra rằng gần như mọi đồ tạo tác mà hắn đã tìm ra đều là đồ giả.

Kể từ khi vụ giả mạo bị khám
phá, chỉ một vài di chỉ có thể phỏng đoán rằng có hoạt động của con
người ở Nhật Bản từ 40.000-50.000 năm TCN, và ngày tháng đầu tiên được
chấp nhận rộng rãi về sự hiện diện của con người trên hòn đảo này có
thể tin được là 35.000 năm TCN.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
ღ Crystal ღ
Pawn
avatar

Tổng số bài gửi : 80
Join date : 18/04/2009
Age : 26
Đến từ : ♥ Trong tim những ai cần tớ ♥

Bài gửiTiêu đề: Re: ~♥~ Lịch sử Nhật Bản ~♥~   Wed Apr 22, 2009 7:33 pm

Thời kỳ Kofun
Sơ lược

Thời kỳ Kofun (kanji: 古墳時代, rōmaji: Kofun jidai, phiên âm
Hán-Việt: Cổ Phần thời đại) là một thời kỳ trong lịch sử Nhật Bản kéo
dài từ khoảng năm 250 đến năm 538. Từ kofun trong tiếng Nhật nghĩa là
mộ cổ. Nó được dùng để đặt tên cho một thời kỳ vì sự xuất hiện hàng
loạt của các mộ cổ có hình dạng và kiến trúc đặc biệt trong thời kỳ
này. Thời kỳ Kofun nối tiếp thời kỳ Yayoi. Thời kỳ Kofun và thời kỳ
Asuka sau đó thường được gộp chung lại thành thời kỳ Yamato.

Thời kỳ Kofun được phân biệt với thời kỳ Asuka bởi những khác biệt
về văn hóa. Thời kỳ Kofun điển hình bởi một nền văn hóa tôn thờ vật tổ
trước khi đạo Phật xuất hiện ở Nhật Bản. Về mặt chính trị, sự ra đời
của triều đình Yamato và sự mở rộng của nó sang các vùng Kyushu và
Kanto là những nhân tố chính tiêu biểu cho thời kỳ này. Thời kỳ Kofun
cũng là thời kỳ có sử thành văn đầu tiên ở Nhật Bản. Tuy nhiên, biên
niên sử của thời kỳ này còn rất sơ sài và không có trật tự đòi hỏi sự
nghiên cứu sâu sắc hơn cũng như sự hỗ trợ lớn hơn từ phía khảo cổ học.

Các tài liệu khảo cổ học và những sử sách của Trung Quốc cổ cho
thấy các bộ lạc và thủ lĩnh bộ lạc, rất nhiều ở Nhật Bản trong thời
gian này, vẫn chưa được thống nhất lại thành các nhà nước cho tới tận
năm 300, khi những lăng mộ lớn bắt đầu xuất hiện trong khi vẫn chưa có
liên hệ nào giữa miền tây Nhật Bản với Trung Quốc. "Thế kỷ huyền bí" đó
còn được mô tả như một giai đoạn mà các cuộc chiến tranh tương tàn giữa
các thủ lĩnh bộ lạc diễn ra để giành quyền kiểm soát Kyushu và Honshu.

Các lăng mộ thời kỳ Kofun



[ảnh]Mộ Daisenryo, lăng mộ của Hoàng đế Nintoku, Osaka, thế kỷ 5

Mộ Daisenryo, lăng mộ của Hoàng đế Nintoku, Osaka, thế kỷ 5Kofun (cổ
phần, mộ cổ) là những lăng mộ được xây cho những người thuộc tầng lớp
thống trị ở Nhật Bản từ thế kỷ 4 đến thế kỷ 7. Thời kỳ Kofun được đặt
tên theo loại lăng mộ đặc biệt này. Những ngôi mộ chỉ được dùng trong
các lễ tang của những người giàu có vào thời kỳ đó. Các ngôi mộ bao gồm
những tảng đá lớn tạo thành quan tài. Một số ngôi mộ còn có đường hào
đào xung quanh.

Các lăng mộ cổ có nhiều hình dạng khác nhau, trong đó hình tròn và
hình vuông là đơn giản nhất. Một loại đặc biệt hơn là loại mộ hình lỗ
khóa (zenpo koen fun), với hình vuông ở phía trước và tròn ở phía sau.
Rất nhiều ngôi mộ như thế là những ngọn đồi tự nhiên được đẽo gọt để có
hình dáng cuối cùng như mong muốn. Các ngôi mộ có kích thước khác nhau
từ vài mét đến hơn 400 mét chiều dài.

Vào cuối thời kỳ Kofun, loại quan tài chôn cất đặc biệt làm bằng
những tảng đá lớn, lúc đầu chỉ giành cho những nhân vật quan trọng nhất
trong xã hội, đã được sử dụng rộng rãi hơn.

Ngôi mộ lớn nhất của thời kỳ này có thể là những ngôi mộ của các
quý tộc địa phương như Hoàng đế Ojin và Hoàng đế Nintoku. Các ngôi mộ
này còn được phân loại theo việc lối vào các quan tài bằng đá là thẳng
đứng (tate-ana) hay nằm ngang (yoko-ana).





[ảnh]Kofun hình nón Noge-Ōtsuka, Tokyo, đầu thế kỷ 5

Kofun hình nón Noge-Ōtsuka, Tokyo, đầu thế kỷ 5Ngôi kofun lâu đời
nhất ở Nhật Bản có thể là ngôi kofun của Hokenoyama ở Sakurai, Nara,
được xây dựng vào thế kỷ 3. Tại quận Makimuku thuộc Sakurai, những ngôi
kofun hình lỗ khóa (kofun Hashihaka, kofun Shibuya Mukaiyama) được xây
dựng vào khoảng đầu thế kỷ 4. Xu hướng xây dựng các kofun hình lỗ khóa
trước tiên lan từ Yamato sang Kawachi (nơi có những kofun khổng lồ như
kofun Daisen của Hoàng đế Nintoku) và sau đó ra cả nước (trừ vùng
Tohoku) trong thế kỷ 5. Vào cuối thế kỷ 5, những kofun hình lỗ khóa
cũng được xây dựng ở vương quốc Gaya trên bán đảo Triều Tiên. Nhiều học
giả Triều Tiên muốn phủ nhận điều này, nhưng hầu hết phải thừa nhận
rằng sự có mặt của những thiết kế kiểu Nhật Bản có một không hai là
bằng chứng không thể chối cãi của dòng chảy văn hóa từ Nhật Bản sang
Triều Tiên trong thời kỳ này.

Sự lan rộng của các kofun hình lỗ khóa được lấy làm bằng chứng cho
sự mở rộng của triều đình Yamato trong giai đoạn này. Tuy nhiên, cũng
có những học giả phản biện rằng đó chỉ đơn thuần là sự lan tỏa của văn
hóa chứ không liên quan nhiều đến các yếu tố chính trị. Ngoài ra, việc
kofun hình lỗ khóa ở Gaya là được xây cho một lãnh chúa địa phương chịu
ảnh hưởng của văn hóa Nhật Bản hay cho một quý tộc Nhật Bản di cư đến
Triều Tiên vẫn còn là điều gây tranh cãi.

Kofun hình lỗ khóa biến mất vào cuối thế kỷ 6, có thể do sự cải
cách sâu rộng xảy ra ở triều đình Yamato, những tài liệu Nihonshoki cho
biết đạo Phật đã xuất hiện ở Nhật Bản trong giai đoạn này. Hai kofun
lớn cuối cùng là kofun Imashirozuka (chiều dài 190m) ở Osaka mà các học
giả hiện đại cho rằng là lăng mộ của Hoàng đế Keitai và kofun Iwatoyama
(chiều dài 135m) ở Fukuoka mà theo sách Fudoki Chikugo là lăng mộ của
Iwai, một triều thần cao cấp của Keitai.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
ღ Crystal ღ
Pawn
avatar

Tổng số bài gửi : 80
Join date : 18/04/2009
Age : 26
Đến từ : ♥ Trong tim những ai cần tớ ♥

Bài gửiTiêu đề: Re: ~♥~ Lịch sử Nhật Bản ~♥~   Wed Apr 22, 2009 7:33 pm

Triều đình Yamato


[ảnh]Nón và áo giáp sắt có mạ đồng, thời Kofun, thế kỷ 5. Bảo tàng Quốc gia Tokyo.

Nón và áo giáp sắt có mạ đồng, thời Kofun, thế kỷ 5. Bảo tàng Quốc
gia Tokyo.Trong khi chính thức được cho là bắt đầu vào khoảng năm 250,
triều đại Yamato thực ra bắt đầu từ bao giờ vẫn còn là một cuộc tranh
cãi. Sự khởi đầu của triều đình Yamato còn liên quan đến cuộc tranh cãi
về triều đại Yamataikoku và sự sụp đổ của triều đại đó. Dù sao đi nữa,
tồn tại một sự nhất trí chung là những người đứng đầu triều đại Yamato
chính là chủ nhân của nên văn hóa kofun hình lỗ khóa và nắm quyền thống
trị Yamato cho đến thế kỷ 4. Tuy nhiên, sự tự trị của các thế lực cát
cứ vẫn được duy trì trong thời kỳ này, đặc biệt là ở những nơi như Kibi
(nay là tỉnh Okayama), Izumo (nay là tỉnh Shimane), Koshi (nay là các
tỉnh Fukui và Niigata), Kenu (nay ở phía bắc Kanto), Chikushi (nay ở
phía bắc Kyushu) và Hi (nay ở trung tâm Kyushu). Chỉ đến thế kỷ 6, các
lãnh chúa Yamato mới bắt đầu giành quyền kiểm soát toàn bộ nửa phía nam
của Nhật Bản. Những quan hệ ngoại giao chính thức với bán đảo Triều
Tiên và Trung Quốc tập trung chủ yếu ở Yamato. Sử thành văn của Trung
Quốc và Triều Tiên không thấy chép lại họ có giao du với tỉnh nào khác
ngoài Yamato trên quần đảo Nhật Bản. Theo những gì khắc trên Thất Chi
Đao, mối quan hệ giữa Yamato và các quốc gia bên ngoài có thể đã bắt
đầu vào cuối thế kỷ 4.


[ảnh]Hình trang trí ở chuôi kiếm thời kỳ Kofun, thế kỷ 6. Bảo tàng Guimet.


[ảnh]Trang sức thời Kofun. Bảo tàng Anh


Những dòng họ địa phương (gōzoku) quyền lực là điển hình cho xã
hội có tổ chức Yamato, nổi lên từ thế kỷ 5. Mỗi dòng họ do một tộc
trưởng (ujikami) đứng đầu, cũng là người thực hiện các nghi thức hiến
tế cho thần (kami) của bộ tộc đó để bảo đảm sự bình yên cho bộ tộc. Các
thành viên của các dòng họ này là những nhà quý tộc và cũng là nhân tố
chủ đạo lãnh đạo triều đình Yamato sau đó.

Một số học giả phương Tây cũng gọi thời kỳ Kofun ở Nhật Bản là
thời kỳ Yamato vì sự xuất hiện của các thủ lĩnh địa phương làm nền tảng
cho một vương triều sau đó đã bắt đầu vào cuối thời kỳ Kofun. Tuy
nhiên, triều đại Yamato chỉ là một trong những xã hội có phân chia đẳng
cấp trong cả thời kỳ Kofun. Các nhà khảo cổ học Nhật Bản nhấn mạnh rằng
vào nửa đầu của thời kỳ Kofun, những thủ lĩnh địa phương khác, như
Kibi, có thể đã có vị trí thống trị quan trọng. Kofun Tsukuriyama của
Kibi là kofun lớn thứ tư ở Nhật Bản.

Triều đình Yamato đã thể hiện sức mạnh với các dòng họ khác ở
Kyushu và Honshu, phong hiệu cho các lãnh chúa, một số được cha truyền
con nối. Cái tên Yamato bắt đầu đồng nghĩa với toàn bộ Nhật Bản khi
triều đình Yamato đánh bại các dòng tộc khác để giành lấy đất đai canh
tác nông nghiệp. Trên cơ sở giống như ở Trung Quốc (bao gồm cả việc sử
dụng chữ Hán), triều đình Yamato bắt đầu phát triển một hệ thống hành
chính tập trung và một triều đình quân chủ có sự tham gia của những
lãnh chúa lớn nhất, nhưng vẫn chưa có một thủ đô cố định. Triều đình
Yamato cũng đã có lúc cầu phong triều đình Trung Quốc.

Triều đình Yamato còn có các liên hệ với vương quốc Gaya, ở Nhật
Bản được gọi là Mimana. Những bằng chứng khảo cổ học từ các lăng mộ
kofun cho thấy sự tương đồng trong nghệ thuật, hình dáng các đồ vật và
quần áo của giới quý tộc. Theo Nihonshoki, những nhà sử học theo trường
phái kokugaku ở Nhật Bản khẳng định rằng Gaya là một thuộc quốc của
Yamato. Giả thuyết này ngày nay đã bị phủ nhận. Thực tế đã diễn ra có
thể là, dù ở những mức độ khác nhau, các quốc gia này đều là thuộc quốc
của những triều đại ở Trung Quốc.

Sự mở rộng lãnh địa của triều đình Yamato


[ảnh]Một nhà kho có sàn cao của thời kỳ Kofun được dựng lại và trưng bày ngoài trời tại Bảo tàng Lịch sử Osaka, thành phố Osaka.


[ảnh] Nón sắt thời Kofun
Áo giáp thời KofunNgoài những chứng cứ khảo cổ học chỉ ra rằng một bộ
tộc tại tỉnh Kibi là một đối thủ đáng gờm của Yamato, truyền thuyết thế
kỷ 4 kể về hoàng tử Yamato Takeru cũng có bóng gió nói đến những trận
chiến ở biên giới tại khu vực tỉnh Kibi. Một biên giới khác cũng được
định rõ có thể là nơi sau đó là tỉnh Izumo (phần phía đông của tỉnh
Shimane bây giờ). Một biên giới khác, ở Kyushu, có thể đã tồn tại ở khu
vực phía bắc của tỉnh Kumamoto ngày nay. Truyền thuyết đó kể lại rằng
có những quốc gia ở phía đông Honshu nơi "người ta bất tuân triều
đình", nơi mà Yamato Takeru đã phải đến để dẹp loạn. Những quốc gia đối
thủ này có thể nằm khá gần trung tâm của Yamato, hoặc xa hơn. Khu vực
thuộc tỉnh Kai ngày nay đã từng được nói đến trong huyền thoại trên
rằng đó là nơi hoàng tử Yamato Takeru đã ở lại trong cuộc hành quân của
mình.

Biên giới phía bắc trong thời gian này cũng được nói đến trong
Kojiki trong phần truyền thuyết về chuyến thám hiểm của Shido Shogun
((四道将軍: Tứ đạo tướng quân). Trong bốn shogun, Obiku đi về phía bắc tới
Koshi và con trai ông Take Nunakawawake đi về phía đông. Sau khi đến
Koshi, Obiki lại đi về phía bắc trong khi con trai ông cũng chuyển sang
hướng bắc sau khi gặp bờ biển và cuối cùng họ gặp nhau ở Aizu (nay là
phía tây Fukushima). Mặc dù truyền thuyết đó có thể không phải là một
sự thật lịch sử chính xác, Aizu khá gần với Tohoku, nơi có những kofun
hình lỗ khóa cuối cùng trong thế kỷ 4


Ōkimi - Đại vương, người cai trị thời kỳ Kofun


[ảnh]Áo giáp thời Kofun

Trong suốt thời kỳ Kofun, một xã hội quý tộc với các lãnh tụ quân sự ngày càng trở nên phát triển.

Thời kỳ Kofun là một thời kỳ quan trọng trong việc biến Nhật Bản
trở thành một nhà nước thống nhất và có tính dân tộc cao. Xã hội này
phát triển nhất ở vùng Kinai, và vùng cực đông của phần biển chia cắt
các đảo Honshu, Shikoku và Kyushu.


Những lãnh chúa của triều đình Yamato



[ảnh] Vương miện hoàng gia thời Kofun. Bảo tàng quốc gia Nhật Bản

Rất nhiều lãnh chúa của các bộ lạc địa phương thuộc thể chế Yamato tin
rằng họ có nguồn gốc thân thích với gia đình hoàng tộc hoặc các vị thần
(kami). Những cứ liệu khảo cổ về các lãnh chúa đó được tìm thấy trên
thanh kiếm Inariyama. Người mang thanh kiếm đó ghi tên tổ tiên của ông
ta là Obiko. Theo Nihon Shoki thì Obiko là một con trai của hoàng đế
Kogen. Ngoài ra, có khá nhiều các lãnh chúa địa phương có nguồn gốc từ
Trung Quốc hoặc bán đảo Triều Tiên.

Vào thế kỷ 5, dòng họ Kazuraki, con cháu của hoàn đế Kogen, là thế
lực mạnh nhất trong triều đình và đã kết hôn với gia đình hoàng gia.
Sau khi nhà Kazuraki đánh mất quyền lực vào cuối thế kỷ 5, dòng họ
Otomo nổi lên thay thế. Khi Hoàng đế Buretsu qua đời mà không có người
thừa kế, chính Otomo no Kanamura đã đưa Hoàng đế Keitai, một bà con xa
của hoàng tộc sống ở Koshi (nay là tỉnh Fukui), trở thành hoàng đế mới.
Tuy nhiên, Kanamura sau đó đã phải từ chức vì những thất bại trong
chính sách ngoại giao, và triều đình dần bị các dòng họ Mononobe và
Soga kiểm soát vào đầu thời kỳ Asuka.




Trong khi chỉ xưng vương với bên ngoài, các lãnh chúa tự gọi mình
là Ōkimi (đại vương) trong thời kỳ này. Bản khắc chữ trên hai thanh
gươm, thanh gươm Inariyama và thanh gươm Eta Funayama có ghi chữ
Amenoshita Shiroshimesu (治天下: trị thiên hạ) và Okimi (大王: đại vương).
Những người mang các thanh gươm đó cũng là những người cai trị các nhà
nước. Các cứ liệu đó cho thấy những nhà cai trị trong thợi đại này cũng
là những lãnh tụ về tôn giáo đánh đồng ngôi báo của họ với sự phó thác
của trời. Danh hiệu Amenoshita Shiroshimesu Ōkimi được sử dụng cho tới
thế kỷ 7, cho đến khi được thay bằng Nhật hoàng.

















Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: ~♥~ Lịch sử Nhật Bản ~♥~   

Về Đầu Trang Go down
 
~♥~ Lịch sử Nhật Bản ~♥~
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Heaven of manga-anime cùng hoà nhịp đam mê :: M & A :: Thư viện :: Văn hoá Nhật-
Chuyển đến